Tin Nóng 24h

Kinh nghiệm giúp học sinh nhận biết Từ đơn, Từ ghép, Từ láy

1.TÌM HIỂU Ý NGHĨA PHÂN LOẠI THEO CẤU TẠO Ở MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU.

  -Với nhiệm vụ dạy về “ từ đơn, từ ghép, từ láy” giáo viên cần chú trọng đến phân tích hình thức cấu tạo của từ, cấu trúc của từ: Từ đơn gồm một tiếng có nghĩa. Từ ghép gồm 2 , 3…tiếng; từ láy gồm 2,3…tiếng láy tạo thành.

  -Trong từ ghép ta xem mối quan hệ của chúng: các tiếng có quan hệ đẳng lập hoặc chính phụ. Trong từ láy ta cần quan tâm đến dạng thức láy, kiểu láy, cần làm rõ sự lặp lại của phụ âm đầu, vần, tiếng, thanh điệu.

  -Dạy về “từ đơn, từ ghép, từ láy” mục đích mở rộng vốn từ cho học sinh theo quan hệ cấu tạo từ qua các phương thức tạo từ láy và ghép. Môn học này học sinh phải hiểu rõ nghĩa của từ, cấu tạo  từ theo yêu cầu, theo chủ đề.

  -Từ ghép gồm các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung. Nghĩa của từ ghép là nghĩa tổng hợp hay phân loại.

  -Từ láy làm nổi bật giá trị biểu trưng gợi tả, gợi cảm, sự tăng nghĩa, giảm nghĩa, thậm chí giá trị biểu trưng của một số khuôn vần tiêu biểu.

2. HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM TỪ, TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

    Quy luật của nhận thức là đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động  đến tư duy trừu tượng rồi trở về thực tiễn.Việc hình thành khái niệm “từ” cho học sinh Tiểu học không nằm ngoài quy luật ấy.Mặt khác ta tiến hành đổi mới phương pháp nên có thể tự lựa chọn nội dung giảng dạy không cần câu lệ vào sách giáo khoa, giúp các em độc lập suy nghĩ và hiểu bài sâu sắc hơn.

* Dạy về từ đơn, từ ghép, từ láy, ở lớp 4, tôi hình thành khái niệm như sau:

a, Trước tiên cho học sinh phân biệt “từ đơn, từ phức”:

   Bước 1: Giáo viên đưa ngữ liệu sách giáo khoa để học sinh phân tích:

    Cho câu sau đây có 14 từ, mỗi từ được phân cách bằng dấu gạch chéo.

 “Nhờ/ bạn/ giúp đỡ/ lại/ có/ chí/ học hành/ nhiều/ năm/ liền/ Hanh/ là/ học sinh/ tiên tiến.”

  Yêu cầu học sinh chia các từ trên thành 2 loại:

– Từ chỉ gồm 1 tiếng ( từ đơn)

– Từ chỉ gồm 2 tiếng (từ phức)

    Vậy câu trên các từ gồm 1 tiếng ( từ đơn ) là: nhờ, bạn, lại, có, chí, nhiều, năm, liền, Hanh, là.

  Các từ gồm nhiều tiếng (từ phức) là: giúp đỡ, học hành, học sinh, tiên tiến.

Bước 2:  Hình thành khái niệm từ đơn, từ phức.

–  Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi:

1, Tiếng dùng  để làm gì?

    Tiếng dùng để cấu tạo từ:

      + Có thể dùng 1 tiếng để cấu tạo nên 1 từ. Đó là từ đơn.

      + Cũng có thể phải dùng 2 tiếng trở lên để tạo nên 1 từ. Đó là từ phức.

2, Từ dùng để làm gì?

    Từ dùng để:

    + Biểu thị sự vật, hoạt động, đặc điểm… (tức là biểu thị ý nghĩa)

    + Cấu tạo câu.

b, Sau khi học sinh phân biệt được từ đơn, từ phức thì tôi giúp học sinh phân biệt từ láy, từ ghép. Qua bài dạy “từ láy và từ ghép” ở lớp 4.

*Tôi giúp hs hình thành khái niệm từ ghép, từ láy như sau :

Bước 1: Cho học sinh phân tích ngữ liệu đi đến phân biệt trong các từ phức:

Truyện cổ, thì thầm, ông cha, chầm chậm, cheo leo, lặng im, se sẽ thì các từ: Truyện cổ, ông cha , lặng im  là do các tiếng  có nghĩa tạo thành được gọi là từ ghép, còn các từ: thì thầm, chầm chậm, cheo leo, se sẽ, do các tiếng có âm đầu (thì thầm ), vần (cheo leo ), cả âm và vần (se sẽ, chầm chậm) được  lặp lại thì gọi là từ láy.

Bước 2: Hình thành khái niệm từ ghép, từ láy

         + Ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép .

         + Ghép các tiếng có âm đầu hay vần hoặc cả âm và vần hoặc cả tiếng giống nhau đó là từ láy.

 c, Sau khi học song 2 bài “ từ đơn và từ phức”, từ ghép, từ láy, tôi khái quát và giúp học sinh hình thành khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy như sau:

           + Từ đơn là từ do 1 tiếng có nghĩa tạo thành.

           + Từ ghép là do các tiếng ghép lại thành một nghĩa chung.

           + Từ láy là do các tiếng láy lại tạo thành.

 d , So sánh khái niệm từ ghép và từ láy.

  – Các tiếng trong từ ghép có quan hệ về nghĩa:

          VD- Học tập, gia đình, xe đạp ….

  – Các tiếng trong từ láy có quan hệ về âm:

     VD – chăm chỉ, loắt choắt, xinh xinh.

 e, Luyện tập:   Hệ thống bài tập được nâng dần từ dễ đến khó. Đầu tiên tôi đưa những từ dễ dàng nhận biết đó là từ đơn, từ ghép hay từ láy.

        Ví dụ:  

–  Từ đơn: Đi, đứng, học, chơi, ăn, sách, vui, bé, bố, mẹ,…

–  Từ láy: Long lanh, chói chang, xinh xinh,…

–  Từ ghép: Xanh lè, tròn xoe, thẳng tắp, nhà cửa, cơm nước, sách vở, thông minh,…

       Bên cạnh các bài tập học sinh dễ dàng nhận biết “từ đơn, từ ghép, từ láy ” trên, tôi nâng dần mức độ cao hơn ở các dạng bài: Tìm từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn văn, đoạn thơ xác định tổ hợp là 2 từ đơn hay 1 từ ghép.

       Ví dụ 1: Xác định từ đơn, từ ghép, từ láy trong đoạn thơ sau:

                          “ Những chú nghé lông tơ mũm mĩm

                            Mũi phập phồng dính cánh hoa mua

                            Cổng trại mở trâu vào chen chúc

                            Chiều rộn ràng trong tiếng nghé ơ ”

     Ví dụ 2: Trong các tổ hợp từ sau, tổ hợp nào là 2 từ đơn, tổ hợp nào là 1 từ ghép: bánh rán, rán bánh, xe kéo, kéo xe, xe cộ, sách vở,…

     Qua 2 ví dụ trên:

     Ví dụ 1: Học sinh còn khó khăn trong việc xác định “ cánh hoa mua”; “ cổng trại”, “ tiếng nghé” là từ ghép hay tổ hợp những từ đơn.

     Ví dụ 2: Học sinh khó khăn trong việc xác định “rán bánh”, “ kéo xe” là từ ghép hay tổ hợp 2 từ đơn.

      Để khắc phục những khó khăn trong việc xác định, phân biệt từ đơn, từ ghép hay phân biệt từ ghép với từ láy tôi đã đưa ra một cách phân biệt như sau.

3. MỘT SỐ CÁCH PHÂN BIỆT TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP.

b3.1 Chêm xen

       Chúng ta biết rằng từ có tính hoàn chỉnh về cấu tạo và về nghĩa, từ ghép có mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp chặt chẽ, khó tách rời, mang tính cố định,..

       Kết cấu 2 từ đơn mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm xen một yếu tố khác, từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp về cơ bản không đổi. Để kiểm nghiệm tính hoàn chỉnh về cấu tạo ta có thể dùng cách “chêm xen ” để thử.

      Trước hết tôi giúp cho học sinh hiểu “ chêm xen ” là việc xen một yếu tố khác của tổ hợp từ nếu:

     * Nghĩa của tổ hợp từ không thay đổi thì tổ hợp từ đó là tổ hợp từ đơn.

* Nghĩa của tổ hợp từ thay đổi thì tổ hợp từ đó là một từ ghép.

Ví dụ: “ Bánh rán ” – ta không thể chêm xen vào giữa 2 tiếng 1 yếu tố nào để nghĩa của nó không thay đổi nên “ bánh rán ” là một từ ghép.

  “Rán bánh” ta có  thể chêm xen “cái” vào giữa 2 tiếng cụ thể “rán cái bánh” mà nghĩa không thay đổi.Vậy “rán bánh” là tổ hợp 2 từ đơn.

       Tương tự học sinh sẽ xác định được “kéo xe”, “tiếng nghé”, “cổng trại” là những tổ hợp 2 từ đơn.

       Còn “xe kéo” là một từ ghép.

       Mặt khác, Tiếng Việt là ngôn ngữ không có sự biến đổi hình thức của từ trong sử dụng, do đó có nhiều trường hợp nếu  chỉ căn cứ vào mặt hình thức thì khó biết được đâu là từ ghép, đâu là tổ hợp những từ đơn. Vì vậy ta phải xem xét chúng trong văn cảnh cụ thể rồi dùng cách “chêm xen”.

       Ví dụ: Tổ hợp từ “Anh em” trong câu”

        “Anh em đi vắng rồi” là tổ hợp 2 từ đơn vì:

       Ta có thể nói “Anh của em đi vắng rồi”

       Tổ hợp “Anh  em” trong câu:

  “Anh em như thể chân tay” là 1 từ ghép vì kết hợp giữa các tiếng rất chặt chẽ không thể thêm tiếng vào giữa chúng.

   Sau đó tôi đưa ra một số dạng bài tập tiêu biểu nhằm củng cố cách chêm xen để xác định tổ hợp từ là từ ghép hay là 2 từ đơn như sau:

*Xác định phần gạch chân trong các câu sau đây là 1 từ ghép hay là 2 từ đơn:

  1. Cánh én dài hơn cánh chim sẻ . ( 2 từ đơn )
  • Mùa xuân những cánh én lại bay về . ( 1 từ ghép)
  1. Chị ấy thích ăn cánh gà . ( 2 từ đơn )
  • Chị ấy đứng lấp ló sau cánh gà . ( 1 từ ghép )
  1. Bánh dẻo lắm bà ạ .                                                  ( 2 từ đơn )
  • Em chỉ thích ăn bánh dẻo, không thích ăn bánh nướng . ( 1 từ ghép)

b3.2, Lược bỏ bớt yếu tố

       Vì tính hoàn chỉnh, chặt chẽ về cấu tạo, về nghĩa của từ mà nhiều khi ta có thể sử dụng một yếu tố thay cho cả một từ đó hay là cách lược bỏ một yếu tố của tổ hợp nếu nghĩa của tổ hợp không thay đổi thì đó là từ ghép.

        Ví dụ: Nói về việc mua hoa ta nói: “ mua cúc ” thì được hiểu rằng mua hoa cúc. Vậy “cúc” ở đây có nghĩa là “hoa cúc” nên “hoa cúc” là một từ ghép.

       Ngược lại nếu ta nói “mua ngô” thì “ngô” được mang nghĩa là “bắp ngô”  chứ không phải là “lá ngô” hay “hoa ngô” nên “bắp ngô” là một từ ghép, còn “hoa ngô” hay “lá ngô” là những tổ hợp 2 từ đơn. Mặt khác nếu trong một tổ hợp từ, một yếu tố của từ mở nghĩa cho các tiếng có kết cấu chặt chẽ, không nằm trong thể đối lập của tổ hợp nào khác thì tổ hợp từ đó là từ ghép.

       Ví dụ: “xòe ra”; “quắt lại” là từ ghép vì “ra” và “lại” đã mở nghĩa nên

“xòe ra” nghĩa là “xòe”, “quắt lại” nghĩa là “quắt” và không có sự tồn tại của thể

đối lập.

    Ví dụ: “xòe vào”,…

     Sau đó tôi đưa ra một số bài tập để học sinh rèn luyện kỹ năng, sử dụng cách

“lược bỏ một yếu tố của tổ hợp”.

  Bài tập: Cho các kết hợp từ sau và chỉ ra kết hợp nào là một từ ghép, kết hợp nào là 2 từ đơn: Chạy đi, cụp vào, bò vào, hoa hồng, lá hồng.

    Học sinh đã xác định được “cụp vào”, “hoa hồng” là một từ ghép còn “chạy đi”,

“bò vào”, “ lá hồng” là những tổ hợp 2 từ đơn.

b3.3, Loại trừ – suy xét

      Với học sinh Tiểu học, “ loại suy ” cũng là một thủ thuật có hiệu quả để xác định cương vị từ “ loại suy” là cách ta đưa ra mẫu tiêu biểu là tổ hợp từ đơn, (hay 1từ ghép).

     Ví dụ:  Tổ hợp “cái bàn” là 2 từ đơn suy ra “cái bút”, “quyển sách”, “ con gà”,… cũng là tổ hợp 2 từ đơn.

      Tổ hợp mẫu “hoa hồng” là 1 từ ghép, suy ra “hoa cúc”, “hoa đào”…cũng là từ ghép.

     Tuy nhiên khi sử dụng “loại suy” cần chú ý nhận dạng cho đúng mẫu và phân biệt các trường hợp nhìn qua về hình thức bề ngoài tưởng như giống nhau nhưng thực chất mối quan hệ về nghĩa lại khác nhau.

      Ví dụ: “xòe ra” là 1 từ ghép nhưng “đi ra” lại là 2 từ đơn ( đã trình bày ở phần tỉnh lược ).

    Sau khi học sinh hiểu được phương pháp “ loại suy”, tôi đưa ra các bài tập nhằm rèn kỹ năng sử dụng phương pháp này để xác định ranh giới từ.

    Trên đây là 3 cách cơ bản để phân biệt từ đơn, từ ghép nhưng không phải một phương pháp nào là vạn năng mà trong từng bài tập cụ thể, các em cần có sự vận dụng linh hoạt các cách.

      Tôi đã đưa ra bài tập tổng hợp để các em thực hành.

      Ví dụ: Dùng gạch dọc để tách đoạn văn sau thành các từ:

   “Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may, lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ chờ tay người đến bẻ mang về .”

   Với bài tập này các em dễ dàng phát hiện ra các từ: trời nắng, chang chang, ran ran, xơ xác, những, đã, mập, chắc, và, chỉ, còn, chờ, đến, bẻ.

   Các em lưỡng lự khi tìm lời giải đáp cho tổ hợp: Tiếng tu hú, gần xa, hoa ngô, cỏ may, lá ngô, quắt lại, rủ xuống, bắp ngô, tay người, mang về.

   Với các tổ hợp từ trên các em đã dùng cách “chêm xen”.

    Tiếng của tu hú ( được ) nên “tiếng” là 1 từ, “tu hú” là 1 từ, gần xa là 1 từ.

    Tương tự các em dùng cách tỉnh lược để nhận ra: cỏ may , quắt lại, rủ xuống là những từ ghép vì các yếu  tố: may, lại, xuống đều mở nghĩa, còn tay người chính là nói người nên tay người là 1 từ.

     Hoa ngô, lá ngô, mang về có kết hợp lỏng lẻo nên chúng là những tổ hợp từ đơn, còn bắp ngô có kết cấu chặt nên là 1 từ ghép.

     Đáp án: Trời / nắng/ chang chang / tiếng / tu hú / gần xa / ran ran /. Hoa / ngô/ xơ xác / như / cỏ may /. Lá / ngô / quắt lại / rủ xuống /. Những / bắp ngô / đã / mập / và / chắc / chỉ / còn / chờ / tay người / đến / bẻ / mang / về/.

4. CÁCH PHÂN BIỆT TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

 Theo định nghĩa từ ghép, từ láy “sách Tiếng Việt 4”

–  Từ ghép là do các tiếng ghép tạo thành một nghĩa chung.

–  Từ láy là từ gồm các tiếng láy lại nhau ( âm đầu, vần), cả âm và vần, tiếng.

Như  vậy dựa vào định nghĩa học sinh sẽ xếp được các từ mà:

–  Các tiếng trong từ có quan hệ về nghĩa, không có quan hệ về âm như: học tập, anh em, gà trống, …là từ ghép.

–  Các tiếng trong từ có quan hệ về âm, không có quan hệ về nghĩa như: chăm chỉ, cần cù, lon ton,…là từ láy.

      Còn các từ mà các tiếng trong từ vừa có quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm như: “học hành, tươi tốt, hư hỏng”

…Thực chất là từ ghép nhưng dựa vào định nghĩa các em dễ nhầm là từ láy, vậy dạy như thế nào?

      Tôi  bổ sung cho từ ghép một dấu hiệu để phân biệt: “ các tiếng trong từ ghép có mối quan hệ về nghĩa ’’ nên khi các từ mà các tiếng vừa có quan hệ về nghĩa, vừa có quan hệ về âm thì ta ưu tiên quan hệ về nghĩa nên xếp chúng là từ ghép.

– Mặt khác còn có các từ mà các tiếng trong từ không có quan hệ về âm, cũng  chẳng  có quan hệ về nghĩa như: mồ hôi, bồ hóng, … theo giáo trình Trường sư phạm thì xếp chúng là từ đơn đa âm, vấn đề này rất khó đối với học sinh Tiểu học nên ta không lấy ra làm ví dụ để xem xét hoặc dùng để ra đề thi kể cả với học sinh giỏi. Nếu học sinh đưa ra yêu cầu xếp loại ta nên nói vấn đề này các em sẽ được học sau ( tránh nói đây là từ ghép).

– Về từ láy cũng có quan niệm khác nhau giữa giáo trình Trường sư phạm và sách giáo khoa Tiểu học. Theo giáo trình Trường sư phạm thì phương thức láy,chỉ ra được hình vị gốc, vì vậy các trường hợp: chôm chôm, đu đủ, thằn lằn, …không được xem là từ láy, còn sách giáo khoa Tiểu học nhất loạt xét theo hình thức ngữ âm nên xếp đây là từ láy, đó cũng là quan điểm phù hợp với tâm lí học sinh Tiểu học.

 – Để xếp 1 từ vào nhóm từ láy phải chỉ ra được sự lặp lại của cả tiếng hoặc 1 bộ phận âm đầu, vần, nên các trường hợp ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch…cần được xếp vào từ láy vì các  tiếng trong từ có sự giống nhau về hình thức ngữ âm: Cùng vắng khuyết phụ âm đầu.

– Ngoài ra giáo viên cần nắm chắc về ngữ âm: /k/ được viết bằng 3 con chữ: c, q, k, âm /z/ viết bằng 2 con chữ: d, gi; âm /y/ viết bằng 2 con chữ: i, y…nên cần giúp  học sinh nắm được các từ láy phụ âm đầu được ghi bằng các con chữ khác nhau như: kệch cỡm, kính coong, cong queo, cồng kềnh, ngô nghê, gồ ghề …

     Để củng cố cho học sinh phần này tôi cho học sinh làm bài tập sau:

     Ví dụ: Xếp các từ sau đây thành 2 nhóm: từ ghép, từ láy:

     Mập mạp, lom khom, tươi tốt, ầm ĩ, học tập, học hỏi, cồng kềnh.

– Học sinh đã xác định đúng như sau:

             + Từ ghép: tươi tốt, học hỏi, học tập.

             + Từ láy: mập mạp, lom khom, ầm ĩ, cồng kềnh

– Trong thực tế học sinh còn gặp phải 1 số từ ghép Hán – Việt có bộ phận âm thanh ngẫu nhiên giống từ láy. Gặp những trường hợp này giáo viên nên giải nghĩa và giảng cho các em hiểu đó là những từ ghép Hán – Việt ( các em sẽ được tìm hiểu k ỹ  ở bậc THCS )

     Ví dụ: Bình minh, hoan hỉ, căn cơ, ban bố,…

     Khi học sinh nắm được các cách phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy ngoài việc ra các bài tập để các em luyện tập kĩ năng sử dụng để tách từ, tôi đưa ra một số dạng bài tập khác giúp các em nhận diện, phân loại, phát triển vốn từ.

5, CÁC DẠNG NHẬN DIỆN, PHÂN LOẠI, PHÁT TRIỂN TỪ ĐƠN, TỪ GHÉP, TỪ LÁY.

* Dạng 1: Tìm từ theo kiểu cấu tạo.

    Ví dụ: Tìm 5 từ đơn, 5 từ ghép, 5 từ láy.

* Dạng 2: Cho sẵn các từ rồi yêu cầu xếp loại.

    Ví dụ: Hãy xếp các từ: thật thà, bạn bè, học hành, chăm chỉ, đi đứng, khó khăn, tươi tốt vào 2 nhóm:

  1. Từ ghép:
  2. Từ láy:

* Dạng 3: Cho sẵn 1 đoạn, 1 câu, yêu cầu học sinh tìm 1 hay 1 số kiểu từ theo cấu tạo có trong đoạn, trong câu đó.

      Ví dụ: Tìm các từ đơn, từ ghép có trong các câu sau:

     Mùa xuân mong ước đã đến. Đầu tiên từ trong vườn mùi hoa hồng, hoa huệ sực nức bốc lên.

* Dạng 4: Cho sẵn các yếu tố cấu tạo từ, yêu cầu học sinh kết hợp chúng theo từng cặp để tạo thành 1 kiểu từ theo cấu tạo nào đó.

       Ví dụ: Ghép các tiếng sau thành những từ ghép:

      Ăn, mặc, ở, xe, nổ, máy, điện, dệt, nói.

      Đầu bài cho sẵn 1 yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng) yêu cầu học sinh tìm từ có tiếng gốc đó theo những kiểu cấu tạo khác nhau.

     Ví dụ: Điền tiếng thích hợp vào chỗ chấm (…) để có:

  1. Các từ ghép                                       Các từ láy
  • Mềm… – Mềm… 
  • Xanh… – Xanh…
  • Khỏe…  – Khỏe…
  • Lạnh… – Lạnh…
  • Vui… – Vui…
  • Nhỏ… – Nhỏ…

* Dạng 5: Tìm từ theo kiểu cấu tạo nào đó, theo một chủ đề cho trước. Đặt câu với từ tìm được.

   Ví dụ: Tìm 2 từ đơn, 2 từ ghép, 2 từ láy nói về chủ đề Tổ quốc. Đặt câu với mỗi từ tìm được.

* Dạng 6 :Tìm từ theo kiểu cấu tạo nào đó theo chủ đề cho trước. Viết thành đoạn văn.

        Ví dụ: Tìm 5 từ ghép hoặc từ láy nói về đức tính của 1 học sinh giỏi. Viết đoạn văn về bạn học sinh giỏi đó.

* Dạng 7: Tìm từ theo cấu tạo giải nghĩa từ.

      Ví dụ: Tìm 5 từ ghép chỉ sắc độ trắng khác nhau. Giải thích ý nghĩa của mỗi từ.

       Mức độ khó của bài tập không phụ thuộc vào các dạng, kiểu bài tập mà phụ thuộc vào chính những ngữ liệu đem ra xem xét. Tùy từng đối tượng học sinh mà ta đưa ra những  ngữ liệu phù hợp. Với học sinh trung bình chỉ cần đưa ra những dạng đơn giản, cơ bản. Học sinh giỏi ta có thể gài một số trường hợp dễ nhầm lẫn. Với những trường hợp có nhiều đáp số khác nhau cần hướng dẫn học sinh tìm ra đáp số của để bài và phải biết lý giải vì sao mình lại đi đến kết quả ấy.

 Ví dụ ở dạng 2: Học sinh băn khoăn khi xếp từ bạn bè là từ ghép hay từ láy.

      Ở đây có 2 quan điểm; nếu xét “ bè” có nghĩa như trong “bè phái”, thì “ bạn bè” là từ láy. Như vậy trong quá trình hình thành khái niệm “từ đơn, từ ghép, từ láy” cho học sinh tôi đã kết hợp các phương pháp giảng dạy để  phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động tìm ra kiến thức, đưa ra những ví dụ phân tích để rút ra phương pháp phân biệt: “ từ đơn, từ ghép, từ láy” sau đó ra các bài tập tổng hợp để các em luyện tập phương pháp đã làm, rèn kĩ năng, kĩ xảo nhận diện từ.

Bình luận Facebook

Bài viết liên quan cùng chủ đề: